Podcast: Play in new window | Embed
Bài viết bởi một tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô tại Campuchia đăng trong tạp chí Liahona tháng 6, năm 2026
Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, Liên Xô đã sắp xếp cho nhiều thanh thiếu niên đến từ châu Phi và châu Á sang học tập tại các quốc gia cộng sản. Vibol Pen rời Campuchia và sống tại thành phố St. Petersburg, Nga, suốt 10 năm để học ngành kỹ thuật điện. Vào năm 1991, hai năm trước khi trở về quê nhà, anh gặp hai người truyền giáo. Mặc dù tự nhận mình là một “người theo chủ nghĩa Lê-nin rất kiên định,” anh vẫn học hỏi với những người truyền giáo và tham dự các buổi nhóm họp của Giáo Hội. Anh đã đặt ra rất nhiều câu hỏi, đặc biệt là về Chúa Giê Su Ky Tô và Joseph Smith. Tuy nhiên, anh vẫn chưa chấp nhận chịu phép báp têm vào thời điểm đó.
Khi trở về Phnom Penh, Campuchia, Vibol gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tìm kiếm một công việc. Nhiều nhà tuyển dụng từ chối anh vì anh đã từng học tập tại Liên Xô. Anh dần hình thành thói quen cầu nguyện mỗi khi nộp đơn xin việc, dù anh cầu nguyện bằng tiếng Nga chứ không phải bằng tiếng mẹ đẻ của mình.
Anh kể cho vợ mình là chị Vanny You nghe về Giáo Hội và bắt đầu giảng dạy cho chị về Chúa Giê Su Ky Tô. Lúc đầu, chị không mấy quan tâm, nhưng trong suốt năm năm sau đó, tấm lòng chị dần thay đổi và cuối cùng chính chị là người đề nghị cả hai vợ chồng đi nhà thờ. “Nhà thờ nào?” Vibol hỏi. “Nhà thờ mà anh từng đi ở Nga,” chị đáp.
Vibol không thể dịch tên của Giáo Hội từ tiếng Nga sang tiếng Khmer, nhưng anh nhớ rằng những người truyền giáo luôn đeo bảng tên. Vì vậy, hai vợ chồng đạp xe khắp Phnom Penh, ghé từng nhà thờ và hỏi: “Các anh có bảng tên không?” Sau hai tuần lễ, họ gặp được hai thanh niên đeo bảng tên, Anh Cả Daniels và Anh Cả Haight. Vibol đã bắt chuyện với họ bằng tiếng Anh, và hai anh cả đã trả lời lại bằng tiếng Khmer. Vibol và Vanny mời hai Anh Cả đến giảng dạy cho họ, và vào ngày 28 tháng Mười năm 1998, họ được làm báp têm.
Gia đình Pen trở thành những trụ cột vững chắc của Giáo Hội tại khu vực Phnom Penh. Vibol đã phục vụ với tư cách là chủ tịch chi nhánh, chủ tịch giáo hạt, và giám đốc Hệ Thống Giáo Dục của Giáo Hội tại Campuchia. Dù thường xuyên phải vật lộn với cảm giác mình chưa đủ khả năng, nhưng đức tin của Vibol đã giúp anh chấp nhận tất cả những sự kêu gọi mới. Anh chia sẻ: “Bởi vì khi chúng ta có đức tin, thì mọi điều sẽ đến với chúng ta, và nhờ đó chúng ta có thể phục vụ.”
Vibol vô cùng trân quý sự gắn kết mà ngày càng được gia tăng trong gia đình anh thông qua phúc âm. Nếu Giáo Hội không đến Campuchia, anh tự hỏi: “Có lẽ chúng tôi đã không có được một gia đình tốt. Con trai và con gái tôi đã không trở thành những người truyền giáo trở về, và có lẽ đôi khi chúng sẽ cãi vã với nhau giống như nhiều gia đình khác ở Campuchia.” Vào ngày 9 tháng Năm năm 2000, Vibol và Vanny đã được gắn bó với nhau cùng với bốn người con của họ—Bun Naa Roat, Phiroum, Wirak và Viriya—trong Đền Thờ Hồng Kông, Trung Quốc.■
