Podcast: Play in new window | Embed
Vuokko Väänänen sinh ở Kuopio, Phần Lan, vào năm 1939. Đó hẳn là khoảng thời gian đầy lo sợ đối với cha mẹ của cô khi chào đón đứa con đầu lòng, vì quân đội Liên Xô vừa tấn công Phần Lan và chiến tuyến chỉ cách Kuopio chưa đầy 100 dặm (161 km). Cha của Vuokko, cùng với gần như tất cả những người đàn ông đủ điều kiện khác, đều bị gọi gia nhập quân đội Phần Lan. Quân đội Phần Lan đã chiến đấu trong sáu năm dài để bảo vệ nền độc lập của đất nước.
Khi Vuokko 16 tuổi, gia đình cô sống ở thị trấn Jyväskylä. Trong thời gian theo học tại một trường trung học dành cho nữ sinh và học tiếng Anh, Vuokko biết được rằng những người truyền giáo từ Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô đang mở các lớp học tiếng Anh miễn phí. Cô bắt đầu tham dự, và ngay sau đó, những người truyền giáo bắt đầu giảng dạy cho cô phúc âm phục hồi của Chúa Giê Su Ky Tô.
Vuokko nhanh chóng và chân thành tin tưởng vào các nguyên tắc mà họ đã dạy cho mình. Cô đã xin phép cha mẹ mình để được làm phép báp têm, nhưng họ đã kịch liệt từ chối lời xin phép của cô. Mặc dù cha mẹ của cô không đặc biệt theo tôn giáo nào, nhưng vào thời điểm đó ở Phần Lan, Giáo Hội Lutheran là tôn giáo chính thức của chính phủ, và việc không theo giáo hội này bị xem là không yêu nước. Trong những năm chiến tranh, người Phần Lan, bao gồm cả gia đình Väänänen, đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, và cha mẹ của Vuokko không thể nào tưởng tượng được việc cô gia nhập một tôn giáo mà họ cảm thấy quá xa lạ với mình.
Mặc dù cha mẹ của cô phản đối phép báp têm, nhưng Vuokko vẫn âm thầm tiếp tục phục vụ và thờ phượng bằng cả tấm lòng theo đức tin mới của mình (xin xem Giáo Lý và Giao Ước 4: 2 ). Ở độ tuổi 17, mặc dù chưa chịu phép báp têm, nhưng cô đã được kêu gọi phục vụ với tư cách là chủ tịch Hội Thiếu Nhi trong chi nhánh địa phương. Cô yêu thương những người bạn của mình trong chi nhánh nhỏ đó và đã trở thành bạn bè thân thiết lâu dài với Các Thánh Hữu tiền phong ở thời kỳ đầu đó.
Chịu Phép Báp Têm và Bị Từ Chối
Vào năm 18 tuổi, Vuokko không còn cần sự đồng ý của cha mẹ để chịu phép báp têm nữa, vì vậy vào ngày 21 tháng Mười Hai năm 1957, cô đã chịu phép báp têm và được làm lễ xác nhận một cách lặng lẽ. Những người truyền giáo dựng một cái hồ báp têm tạm thời từ những tấm gỗ vụn ghép lại với nhau và lót bên trong bằng một tấm nhựa để giữ nước. Để che đi sự thô sơ của hồ báp têm, họ đã thêm màu thực phẩm xanh lá cây vào nước. Vuokko luôn cười rằng cô ấy thực sự là một “mầm xanh” sau lễ báp têm của mình.
Vào ngày báp têm của cô, một người nào đó đã chụp cho cô một bức ảnh Polaroid, mà cô đã kẹp vào trong quyển Kinh Thánh của mình. Một vài ngày sau, mẹ của cô cầm quyển Kinh Thánh lên và thấy bức ảnh. Ngày hôm đó, khi Vuokko đi học về, chiếc va li với tất cả đồ đạc của cô đã được xếp gọn và được đặt ngay ngoài cửa chính của gia đình. Cô được báo rằng cô không còn được chào đón trong nhà của mình nữa.
May mắn thay, bà nội của Vuokko là một góa phụ trong thời chiến, đầy nhân hậu và cảm thấy thương xót cho cháu gái của mình. Bà nội đưa Vuokko đến sống với mình trong một căn hộ nhỏ để Vuokko có thể học hết trung học. Vì không có sự hỗ trợ tài chính từ cha mẹ, Vuokko sợ rằng ước mơ của mình để theo học tại trường Brigham Young University là không thể thực hiện được. Vuokko không biết rằng, một đêm nọ, bà nội của cô đã tình cờ nghe được lời cầu nguyện của cô với Chúa về một phép lạ mà sẽ giúp cô có thể theo học tại BYU.
Niềm Hy Vọng Đã Thành Hiện Thực
Một buổi sáng nọ, bà nội đã khiến Vuokko vô cùng bất ngờ khi nói rằng bà nội đang đi tàu đến Helsinki, cách đó khoảng năm tiếng đồng hồ, và sẽ trở về vào buổi tối hôm đó. Vuokko bị sốc. Bà nội của cô chưa bao giờ đi đâu cả, vậy mà giờ đây bà nội lại thực hiện một chuyến đi bí ẩn đến thủ đô lớn. Buổi tối hôm đó, khi bà nội trở về, bà nội đã gọi Vuokko vào bếp. Bà nội nhấc một cái túi lớn lên, trút ngược nó xuống, và một đống tiền mặt rơi xuống bàn. Sau khi nghe lời cầu nguyện của Vuokko, bà nội của Vuokko đã đi đến thủ đô với hy vọng một khoảng tiền may mắn nào đó có thể đến. Bà nội đã nói với Thượng Đế rằng nếu bà nhận được sự may mắn, bà sẽ sử dụng nó để gửi Vuokko đến trường BYU, và bà đã làm đúng như lời bà đã nói.
Vuokko đến Hoa Kỳ vào năm 1959 và theo học trường BYU, nơi mà cuối cùng cô đã gặp và kết hôn với Harlan Harrison, một người truyền giáo đã được giải nhiệm trở về sau khi phục vụ ở Phần Lan. Trong khi đi truyền giáo, Harlan đã giúp cha của Vuokko với một dự án phiên dịch. Cha của Vuokko đã đưa cho Harlan một chiếc máy ảnh và nhờ cậu mang nó đến cho con gái của mình ở Hoa Kỳ như một lời thể hiện cho sự hối hận của ông về cách mà cô ấy đã bị đối xử.
Thật không may, chiếc máy ảnh đã bị đánh cắp, và Harlan thú nhận với Vuokko rằng cậu không có tiền để mua một chiếc máy ảnh mới cho cô ấy, nhưng cậu muốn đưa cô ấy đi ăn tối. Một mối tình lãng mạn nảy nở, và họ kết hôn vào năm 1961.
Cuộc sống của họ cũng có nhiều niềm vui và nỗi buồn — giống như cuộc sống trần thế — nhưng trong suốt nhiều thập kỷ của cuộc đời Vuokko lại tràn ngập cam kết phục vụ cho quê hương và cho đức tin của cô. Cô đã làm tròn lời hứa trong phước lành tộc trưởng của mình rằng cô sẽ ban phước cho các tín hữu Giáo Hội ở quê hương của mình. Cô đã phục vụ với tư cách là người phiên dịch tình nguyện cho Giáo Hội trong nhiều năm và giảng dạy tiếng Phần Lan cho hàng trăm người truyền giáo tại trung tâm huấn luyện truyền giáo. Nhà của cô luôn là nơi nương náu. Có rất nhiều người đến và đi và Vuokko quan tâm và yêu mến tất cả họ. Cuối cùng, việc sống theo phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô thực sự là điều may mắn, và Vuokko đã chia sẻ phúc âm đó cho mọi người mà cô ấy biết.
